| Hạt nhựa PC nguyên sinh nhận được đánh giá cao từ đông đảo khách. Nhựa | Bởi những ưu điểm trên, hạt nhựa ABS được làm nguyên liệu để sản

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* Mua tên miền "TAMNHUA.NEMCAOSU.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Nhua: (84-28) 3855 2849

Polyetylen tuyến tính (LLDPE) là ethylene với

Cấu trúc phân tử của LLDPE thông thường được đặc trưng bởi chuỗi chính tuyến tính của nó, với nhánh nhỏ hoặc không có, nhưng với một số nhánh ngắn. Nếu không có nhánh nhánh dài, độ kết tinh của polymer cao hơn.
 
Sản phẩm LLDPE không độc hại, không vị, không mùi và có các hạt màu trắng sữa. So với LDPE, nó có ưu điểm sức mạnh cao, dẻo dai tốt, độ cứng cao, khả năng chịu nhiệt, chịu lạnh ... Nó cũng có tính chống chịu tốt về môi trường, nứt, chống rạn nứt và chống lại axit, kiềm, dung môi hữu cơ, vv

 Phủ luống bằng màng phủ nông nghiệp là phương pháp canh tác phổ biến trong sản xuất rau ở nhiều quốc gia trên thế giới như ở Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan...  Màng phủ nông nghiệp được sản xuất từ hạt nhựa LDPE kết hợp với LLDPE mang lại tính hiệu quả và tiết kiệm cho khách hàng

Ngoài ra còn có các màng HDPE HDPE (High density Polyethylene) là nhựa PE hay còn gọi là vải địa kỹ thuật chống thấm có trọng lượng phân tử lớn chiếm 97,5%, 2,5% than hoạt tính và các hoạt chất chống oxi hoá. dùng lót đáy hồ nuôi tôm với độ bền và thời gian sử dụng lâu, giá cả hợp lý.

Kích thước ngang từ 1m đến 6m, chiều dài cuộn 100m. Độ dày từ 0.1mm đến 0.5mm

Tỷ trọng trung bình màng dày 0.1mm : 1kg/11 m2 ; dày 0.3mm: 1kg/3,6 m2 ; dày 0.5mm: 1kg/2,2m2.

Màu sắc: Đen, Xanh-đen, Trắng

Thông thường là 1-Butene, 1-Hexene, 1-Octene, tuy nhiên các alkene mạch nhánh như 4-methyl 1-pentene thường được sử dụng nhiều hơn.

Nó được tổng hợp tương tự HDPE, nhưng có hàm lượng comonomer cao hơn nhiều, chẳng hạn như hexene hoặc octen.

Sự kết hợp của comonomer trong mạch nhánh cong và ngắn có chiều dài nhất định.Bằng cách kiểm soát số lượng nhánh qua các hàm lượng comonomer, mức độ kết tinh do đó có thể kiểm soát được tỷ trọng. Các biến thể của LLDPE được gọi là polyethylene tỷ trọng rất thấp



(VLDPE) và polyethylene tỷ trọng siêu thấp (ULDPE).

Tỷ trọng LLDPE thường trong khoảng 0.88 ÷ 0.93 g/cm3.

Mạch phân tử LLDPE với nhiều nhánh ngắn.

Phản ứng polymer hóa sử dụng nhiều hệ xúc tác như Zeigler-Natta trong một trong hai phương pháp là trong pha khí hoặc trong hệ huyền phù.

Do nhiệt độ sôi của 1-octene khá cao nên trùng hợp trong huyền phù được sử dụng nhiều hơn.

Sự phân bố các thành phần các comonomer được mở rộng, vì vậy, trong

một mạch phân tử hoặc trong một đoạn mạch phân tử, có những nơi có ít

nhánh, còn nơi khác lại có nhiều nhánh hơn.

Đặc tính – Ứng dụng của LLDPE:

Tính chất của LLDPE có xu hướng nằm giữa LDPE và HDPE (nhiệt độ

nóng chảy 240 ÷ 260°F, 115 ÷ 125°C).

Khi trong máy đùn nó có tương tự như HDPE, đòi hỏi momen xoắn cao hơn và thường sử dụng phễu nhập liệu có rãnh.

Tuy nhiên, khi qua đầu die thường được gia công giống như LDPE, mặc

dù độ bền nóng chảy có xu hướng thấp hơn so với LDPE.

Được xử lý bằng cách sử dụng vòng thổi khí miệng kép để ổn định bong bóng, đồng thời cung cấp một lượng lớn không khí làm mát.

LLDPE là sự kết hợp của HDPE và LDPE.

Nó có nhiều nhánh ngắn và không chứa nhánh dài, vì vậy sự kết tinh thấp, các tính chất cơ học được cải thiện, nhưng khả năng lưu biến khi gia công thấp hơn so với LDPE.

Độ bền của nó là cao hơn so với LDPE, ngang với HDPE.

Tuy nhiên, nó cho cảm giác mềm mại và độ cứng thấp hơn LDPE.

Polyetylen mật độ thấp (LDPE) là một phần không thể thiếu trong dòng sản phẩm polyolefin của Sunwell Vina. LDPE linh hoạt hơn so với HDPE, điều này làm cho nó trở thành một lựa chọn tốt cho các bộ phận giả trong ngành y tế.

Khả năng chống va đập của nó làm cho nó trở nên tự nhiên đối với các miếng đệm tác động, trong khi khả năng gia công dễ dàng của nó làm cho nó trở thành một lựa chọn tốt cho các bộ phận chế tạo nơi yêu cầu chống hóa chất và ăn mòn.

LDPE giảm căng thẳng và màu “tự nhiên”. Nó có sẵn trong các tờ 48 “x 96” với kích thước đo từ 1/16 “đến 1”.

Lĩnh Vực Ứng Dụng:

Hạt Nhựa LDPE được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như:

    Công nghiệp
    Y khoa
    Thermoforming (Đúc Khuôn Nhiệt Độ Cao)

Gồm các ứng dụng:Tấm lót sàn, Bản lề cửa chống ồn, miếng đệm giảm lực, dụng cụ chỉnh hình và chân tay giả v.v…
LDPE được sử dụng rộng rãi để sản xuất các thùng chứa khác nhau, phôi chai, ống, các bộ phận bằng nhựa cho các thành phần máy tính và các thiết bị phòng thí nghiệm đúc khác nhau . Sử dụng phổ biến nhất của nó là trong túi nhựa . Các sản phẩm khác được làm từ nó bao gồm:

    Khay và hộp đựng đa năng
    Bề mặt làm việc chống ăn mòn
    Các bộ phận cần phải hàn và gia



Các bộ phận đòi hỏi sự linh hoạt, mà nó phục vụ rất tốt
    Các bộ phận rất mềm và dễ uốn như nắp đậy
    
Đúng như tên gọi của mình, nhựa nguyên sinh nên nó thường có màu trắng tự nhiên. Kèm theo đó là độ bền cao, tính đàn hồi tốt, khả năng tạo hình vượt trội. Trên thị trường hiện nay, có một số loại hạt được pha thêm hạt nhựa tạo màu để tăng tính ứng dụng. Có lẽ nhờ vậy mà hạt nhựa nguyên sinh được ứng dụng cao và được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng hiện nay.

Đến đây có lẽ bạn đã nắm bắt được những đặc điểm nổi bật của hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu đã và đang có mặt tại thị trường nước ta. Trên thế giới các hạt nhựa nguyên sinh vô cùng đa dạng. Tuy chúng đều có mặt tại thị trường Việt, tuy nhiên những hạt nhựa nguyên sinh dưới đây được xem là phù hợp với thị trường trong nước hơn cả. Và mỗi một loại nhựa nguyên sinh đều có mức giá bán khác nhau. Cụ thể:

    Có thể bạn quan tâm: Báo giá Hạt Nhựa HDPE chính hãng mới nhất 2020

Báo giá hạt nhựa nguyên sinh PP nhập khẩu

Hạt nhựa PP nguyên sinh được đánh giá là loại nhựa được sử dụng phổ biến nhất tại thị trường Việt. Với những đặc tính như:

    Tỷ trọng nhẹ.
    Độ dẻo và độ bền cao.
    Tính cách điện tốt.

Giúp cho đông đảo doanh nghiệp yêu thích và tin dùng. Tuy nhiên, nó cũng có một số nhược điểm như:  Dễ bị lão hóa khi để ở ngoài trời trong thời gian dài. Khi ở nhiệt độ thấp thì PP rất dễ bị vỡ thành các mảnh. Với những đặc điểm trên, nhựa PP thường được sử dụng để sản xuất móc quần áo, xô, chậu, thùng đựng rác…

    Có thể bạn quan tâm:

        Bảng báo giá hạt nhựa PP cập nhật mới nhất 2021
        Bảng báo giá Hạt Nhựa PP cập nhật mới nhất 2020

Báo giá hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu PE

Không chỉ gây ấn tượng về giá hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu. PE còn chinh phục khách hàng bởi những đặc điểm như:

    Tuổi thọ cao..
    Tính kết nối cao nên có độ kín cao, không bị rò rỉ.
    Chịu được áp lực và va đập tốt.
    Không gây độc hại.
    Giá thành rẻ hơn so với các hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu khác

Nhờ vậy mà hạt nhựa nguyên sinh PE được sử dụng nhiều trong sản xuất bồn chứa nước. Hay màng bọc, túi nhựa, bao tải, các loại nắp chai…

Báo giá hạt nhựa PET nguyên sinh

Các tính chất vật lý của hạt nhựa PET nguyên sinh vô cùng đặc biệt, ít có hạt nhựa nguyên sinh nào có được. Điển hình như:

    Khả năng chịu áp lực tốt và chịu được nhiệt độ cao.
    Độ bền cơ học cao, chịu được mài mòn và chịu được lực xé, lực va chạm tốt.
    Bề mặt có nhiều lỗ rỗng, xốp. Vì thế việc vệ sinh rất khó.
    Mức độ tái chế thấp, chỉ khoảng 20%

Loại nhựa nguyên sinh này được ứng dụng trong tổng hợp xơ sợi, vật đựng đồ ăn, đồ uống hay các chất lỏng.

    Có thể bạn quan tâm:

        Top 7 Hạt nhựa nguyên sinh bán chạy nhất thị trường 2020
        Giá Hạt Nhựa ABS nguyên sinh chính hãng mới nhất 2021

Báo giá hạt nhựa nguyên sinh PC

Hạt nhựa PC nguyên sinh nhận được đánh giá cao từ đông đảo khách hàng. Một phần nhờ giá hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu PC rẻ, một phần nhờ vào những ưu điểm nổi trội như:

    Màu trong suốt, đẹp.
    Có tính dẻo dai, độ bền cao gấp 250 lần thủy tinh.
    Khả năng chống mài mòn cao.
    Không bị tác động bởi các thành phẩm có trong thực phẩm.

Do đó, hạt nhựa nguyên sinh PC nhập khẩu trở thành nguyên liệu chính để sản chai nhựa.



    Có thể bạn muốn biết

        Chất liệu TPR là gì? 10 Thuộc tính tuyệt vời của nhựa TPR
        Hạt nhựa kỹ thuật là gì? 3 Loại nhựa kỹ thuật phổ biến nhất hiện nay

Báo giá hạt nhựa nguyên sinh PVC nhập khẩu

Nhựa nguyên sinh PVC sở hữu rất nhiều tính chất tuyệt vời không phải hạt nhựa nào cũng có. Điển hình như:

    Chúng thường ở thể rắn, không mùi.
    Có màu trắng phổ biến nhưng cũng có loại không màu, có chăng là màu hổ phách.
    Không chứa chất độc hại, an toàn cho người sử dụng.

Nhờ vậy, hạt nhựa PVC nguyên sinh nhập khẩu trở thành vật liệu chính. Trong sản xuất ống nhựa, làm sàn gỗ PVC…

    Có thể bạn quan tâm: Báo giá Hạt Nhựa PE chính hãng mới nhất tại RMT Việt Nam

Giá hạt nhựa PA nguyên sinh nhập khẩu

Hạt nhựa nguyên sinh PA còn có tên gọi khác là Nilon. Chúng có những ưu điểm nổi bật phải kể đến như:

    Tính chịu mài mòn tốt, độ bền cao.
    Tỷ trọng nhẹ, độ trơn bóng cao.
    Chịu hóa chất, chịu nhiệt độ thấp.
    Không độc, dễ pha màu.
    Đặc biệt, rất dễ gia công.

Chính vì vậy, mà hạt nhựa PA trở thành nguyên liệu chủ yếu để sản xuất lưới lọc nhiên liệu. Bình vật dụng đựng đồ tiêu hao nồi bán dẫn, máy hút bụi…

Bạn thấy với những đặc điểm nổi trội, kèm theo đó là tính ứng dụng cao. Thì theo bạn giá hạt nhựa chuyên dụng này sẽ như thế nào? Mời bạn theo dõi tiếp ở phần sau nhé.

Phân loại, ưu điểm và ứng dụng của hạt nhựa nguyên sinh

Thế giới các hạt nhựa nguyên sinh rất đa dạng. Ở đây, chúng tôi giới thiệu đến bạn đọc 7 hạt nhựa nguyên sinh phổ biến nhất là: PP, PE, ABS, PET, PC, PVC, PA.
– Ưu điểm ảnh hưởng đến giá hạt nhựa nguyên sinh PP

Có thể nói, đây là loại nhựa thông dụng nhất trên thị trường hiện nay.

Hạt nhựa PP có tỷ trọng nhẹ, dẻo và độ bền cao. Có tính cách điện tốt. Tuy nhiên, dòng vật liệu này bị lão hóa khá nhanh khi để ngoài trời trong một thời gian dài. Ở nhiệt độ thấp, chúng dễ bị phá vỡ thành các mảnh.

Hạt nhựa PP được ứng dụng để sản xuất móc quần áo, cốc nhựa, xô, chậu, thùng rác nhựa,…
– Hạt nhựa PE

Tính chất đáng chú ý của hạt nhựa PE:

+ Tuổi thọ cao

+ Tính kết nối cao nên có độ kín cao, không bị rò rỉ

+ Chịu được áp lực và va đập tốt

+ Không gây độc hại.

+ Giá thành rẻ hơn so với các loại nhựa khác.

Hạt nhựa PE ứng dụng nhiều trong sản xuất bồn chứa nước, màng bọc, túi hoặc bao tải, các loại nắp chai, làm sàn gỗ nhựa PE…

Ưu điểm nổi bật của hạt nhựa ABS:

+ Dẻo dai, khả năng chịu va đập tốt

+ Bền với nhiệt trong thời gian dài

+ Dễ tạo màu sáng hoặc phát quang

Bởi những ưu điểm trên, hạt nhựa ABS được làm nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm như mũ bảo hiểm, thùng chứa, dụng cụ âm nhạc, đầu gậy đánh golf, lớp bảo vệ đầu hộp số, đồ chơi, vỏ bánh răng,…
– Ưu điểm ảnh hưởng đến giá hạt nhựa nguyên sinh PET

Các tính chất vật lý của hạt nhựa PET:

+ Khả năng chịu áp lực tốt và chịu được nhiệt độ cao

+ Độ bền cơ học cao, chịu được mài mòn, chịu được lựa xé và lực va chạm.

+ Bề mặt có nhiều lỗ rỗng, xốp nên khó có thể làm sạch


Nhựa

Chất dẻo, hay còn gọi là nhựa ( tiếng anh gọi là plastic ) hoặc polymer, là các hợp chất cao phân tử, được dùng làm vật liệu để sản xuất nhiều loại vật dụng trong đời sống hằng ngày cho đến những sản phẩm công nghiệp, gắn với đời sống hiện đại của con người. Text Box: Chúng là những vật liệu có khả năng bị biến dạng khi chịu tác dụng của nhiệt, áp suất và vẫn giữ được sự biến dạng đó khi thôi tác dụng.
Nhựa, Các sản phẩm nội thất như: gỗ nhựa Composite, sàn gỗ, Ngoài ra còn có các màng HDPE HDPE (High density Polyethylene) là nhựa PE hay còn gọi là vải địa kỹ thuật chống thấm có trọng lượng phân tử lớn chiếm 97,5%, 2,5%



Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam.

Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa, sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước.

Thị trường xuất khẩu truyền thống của các công ty nhựa Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, một số nước thuộc khu vực Châu Âu (Đức, Hà Lan…) và ASEAN (Campuchia, Indonesia, Philippine…). Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn mới của các nhà xuất khẩu nhựa Việt Nam.

Thói quen ưa chuộng sử dụng sản phẩm nhựa trong cuộc sống thường ngày của người Việt, đặc biệt là các loại bao bì nhựa, nên, nhu cầu sử dụng nhựa của Việt Nam tương đối cao.

Với mức tăng trưởng kinh tế ổn định (ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới), đặc biệt nhu cầu ngành xây dựng, hạ tầng, tiêu dùng cũng như thu nhập bình quân đầu người gia tăng (cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu mua sắm gia tăng) sẽ là động lực chính cho đầu ra ngành công nghiệp nhựa trong nước.

Bên cạnh đó, các Hiệp định tự do thương mại Việt Nam đã và đang ký kết như FTAs, và RCEP cũng là những yếu tố tích cực giúp cho sản phẩm nhựa Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường khác.

Đặc biệt, RCEP sẽ giúp các công ty Việt Nam mở rộng phạm vi khu vực nguồn nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính, gồm nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.

Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc.

Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.

Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Bao bì nhựa chiếm 460 trên tổng số 2.000 công ty nhựa trên toàn quốc, 66% giá trị xuất khẩu nhựa hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì.

Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU.

Tuy có nhiều lợi thế về chi phí sản xuất thấp nhưng thị trường xuất khẩu túi, bao bì nhựa đang gặp một số khó khăn tuy nhiên chúng tôi đánh giá những trở ngại đó không quá ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhựa bao bì trong nước.

Cụ thể: EU đã thông qua quy định về hạn chế sử dụng túi nhựa và xu hướng chuyển sang dùng các loại túi, bao bì tự phân hủy.

Tuy nhiên hàng nhựa bao bì Việt Nam xuất sang châu Âu thường phải đáp ứng những yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu là bao bì cao cấp và bao bì tự hủy, nên quy định này sẽ không quá ảnh hưởng tới việc xuất khẩu của bao bì Việt Nam.

Bên cạnh đó, Mỹ vẫn tiếp tục kéo dài việc áp thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm túi, bao bì nhựa PE nhập khẩu từ Việt Nam (cùng với Việt Nam là các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan cũng chịu các mức thuế phạt thêm 5 năm nữa).

Mỹ đã bắt đầu chương trình hạn chế này từ năm 2010 và tiếp tục gia hạn sau thời kỳ 5 năm lần đầu tiên kết thúc.



Nhựa vật liệu xây dựng: Chiếm 14% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ.

Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt động xây dựng dân dụng, hạ tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mô lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông.

Nâng cấp đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với tiềm năng cao.

Các yếu tố thúc đẩy phân khúc nhựa VLXD phát triển như: Thị trường bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn phục hồi; Kích thước cồng kềnh của các sản phẩm nhựa VLXD khiến vận chuyển khó khan do đó sản phẩm nhập ngoại kém cạnh tranh;

Thị hiếu tiêu dùng đặc trưng là những lợi thế giúp các công ty sản xuất nhựa VLXD không chịu nhiều cạnh tranh từ các công ty nước ngoài; Theo Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020.

Tầm nhìn đến năm 2025 của Bộ Công thương, ngành nhựa sẽ chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm dần tỷ trọng các nhóm sản phẩm nhựa bao bì và nhựa gia dụng, tăng dần tỷ trọng nhóm nhựa VLXD và nhựa kỹ thuật có tính chất cơ lý đặc biệt chuyên dùng trong thi công công trình và hoạt động công nghiệp.

Nhựa gia dụng: Chiếm khoảng 32% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi, và giầy dép.

Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao.

Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân.

Tuy nhiên các công ty trong nước đang đánh giá thấp nhu cầu tiêu dùng hàng cao cấp trong nước và không có kế hoạch phát triển dòng sản phẩm cao cấp, phân khúc nhựa gia dụng cao cấp vẫn đang bị bỏ ngỏ. Kết quả là mảng nhựa gia dụng cao cấp bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh với những chiến lược bài bản như: hệ thống phân phối hiện đại (hệ thống các cửa hàng bán sản phẩm kết hợp với hợp tác cùng các siêu thị, trung tâm thương mại).

Đâu tư công nghệ để đa dạng hóa sản phẩm nhằm đánh vào tâm lý xem trọng an toàn sức khỏe và phủ kín nhu cầu của người tiêu dùng.

Nhựa công nghệ cao: Chiếm 9% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng trong lắp ráp ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghiệp composite.

Đến nay toàn ngành Nhựa Việt Nam gồm khoảng hơn 2.000 công ty trải dài từ Bắc vào Nam và tập trung chủ yếu ở Tp.HCM (tại Tp.HCM chiếm hơn 84%) thuộc mọi thành phần kinh tế với hơn 99,8% là công ty tư nhân. Các công ty trong nước chiếm 85%, công ty nước ngoài tuy chỉ chiếm 15% về số lượng nhưng chiếm đến 40% về vốn đầu tư.

Chính phủ dự báo sẽ thoái vốn khỏi nhiều công ty trong nước và dự kiến nhiều công ty nước ngoài sẽ tận dụng cơ hội này để mua lại một tỷ lệ lớn cổ phần chào bán, qua đó nâng tỷ lệ vốn góp trên thị trường lên khoảng 60%.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo.

Trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất. Hiện nay mỗi năm ngành Nhựa cần khoảng 4.5-5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS, PVC… chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ trợ khác nhau.

Trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 1 triệu tấn nguyên liệu và hóa chất, phụ gia cho nhu cầu của ngành Nhựa Việt Nam.

Ngành Nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào.

Nếu không sớm chủ động được nguồn nguyên liệu thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho các công ty ngành Nhựa để có thể thực hiện sản xuất cũng như tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Tình hình xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam

Hiện tại, các sản phẩm của nhựa Việt Nam đã có mặt tại 151 thị trường trên thế giới, kể cả những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, tiêu chuẩn kỹ thuật tối ưu như Nhật Bản, Mỹ, EU.

Xuất khẩu nhựa của Việt Nam chủ yếu đến từ nhóm những công ty FDI (chiếm 60% giá trị xuất khẩu toàn ngành), những công ty này sử dụng những công nghệ tiên tiến, đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường nước ngoài.

Nhật Bản, EU và Mỹ là những thị trường xuất khẩu chính của ngành Nhựa Việt Nam, trong đó Nhật Bản vẫn giữ vị trí đầu tiên với tỷ trọng trên 20% giá trị xuất khẩu qua các năm.

Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn là bao bì túi nhựa, hoặc phụ kiện, linh kiện có giá trị gia tăng thấp.

Mặc dù triển vọng xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam được hỗ trợ tích cực bởi các hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam đã tham giá như FTAs.

RCEP nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế tới từ thị trường xuất khẩu khác như xu hướng chuyển dịch sang sử dụng bao bì thân thiện với môi trường tại châu Âu ngày một lan rộng trong khi Mỹ vẫn áp thuế chống phá giá lên mặt hàng túi nhựa PE nhập từ Việt Nam.

Những hạn chế cản trở phát triển công nghiệp nhựa

Nguyên liệu đầu vào chính của ngành nhựa là các bột nhựa và hạt nhựa PE, PP, PVC, PS và PET, được sản xuất chủ yếu từ dầu-khí-than.

 Trong đó 75%-80% nguyên liệu và phụ liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất nhựa phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước hiện nay chỉ có thể đáp ứng khoảng 1 triệu tấn nguyên phụ liệu (chủ yếu là nhựa PVC, PET và PP), đặc biệt thiếu nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển.

Chi phí cho nguyên liệu chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí của ngành nhựa. Tuy nhiên các công ty nhựa Việt Nam không thể chủ động nguồn cung cấp trong nước, phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu đầu vào.

Tình trạng này dẫn đến việc các công ty nhựa phải duy trì tồn kho nguyên liệu lớn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.

Kéo theo đó là chi phí tài chính gia tăng, cộng thêm rủi ro về thay đổi tỷ giá và giá dầu thế giới. Hạn chế này là đặc điểm chung của cả ngành nhựa Việt Nam và khó có thể thay đổi trong vài năm tới.

Lượng lớn nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu sẽ khiến các công ty xuất khẩu sản phẩm nhựa khó tận dụng được ưu đãi thuế do những quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa.

Bên cạnh đó, giá nhựa nguyên liệu nhập khẩu thường biến động tương ứng với thay đổi của giá dầu (nhất là thời gian vừa qua khi giá dầu tăng/giảm bất thường và khó dự báo).

Tạo nên những rủi ro về chi phí đầu vào và lỗ do chênh lệch tỷ giá USD/VND, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các công ty nội địa.

Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chỉ mới tập trung vào một số sản phẩm nhựa, chưa có cơ chế và chính sách hỗ trợ riêng cho toàn ngành.

Các sản phẩm nhựa Việt Nam hầu hết nằm ở phân khúc tầm thấp nên các công ty quy mô nhỏ và vừa (chiếm hơn 90% trong tổng số 2.000 công ty nhựa) thường ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ, máy móc hiện đại.